Bản vẽ chân bàn chữ K dưới đây là mẫu hình học tự dựng, có hai tờ PDF và mô hình SKP tải kèm. Nó giúp đọc hình chân, các mốc ngoài và cách hai đầu liên hệ trong cả khung. Mẫu dùng cho tham khảo và bố trí, chưa phải hồ sơ đặt cắt hoặc sản xuất.
Hình chữ K ở đây gồm một trục đứng và hai nhánh xiên gặp vùng giữa, đặt trong cụm có thanh trên và thanh dưới. Đây là một biến thể cụ thể, không đại diện mọi sản phẩm mang tên chân K. Không lấy cách gọi chữ để suy vật liệu, tải hoặc cách nối.

Tải bản vẽ và mô hình chân K
Tải gói bản vẽ chân chữ K tham khảo PDF và SKP. Gói có hai tờ PDF, SKP, OBJ, dữ liệu hình học theo mm và tệp hướng dẫn. Chỉ có tài liệu cùng mô hình, không có chương trình cần chạy hoặc tiện ích cần cài từ gói tải.
PDF tờ một thể hiện đầu khung với chiều rộng và cao; tờ hai thể hiện mặt bằng cả bộ. SKP chứa các nhóm khối riêng để xem hoặc chỉnh bố trí. Hãy đọc tệp hướng dẫn trước, giữ bản gốc và tạo bản sao khi thử phương án của mình.
Mẫu hình học được phép dùng, sửa và chia sẻ cho bố trí hoặc phối cảnh. Không xem quyền dùng mẫu là xác nhận kỹ thuật cho chiếc bàn thực. Cần phát triển vật tư, liên kết, phần nhận và tiêu chí kiểm riêng trước chế tạo.
Các kích thước đang ghi là gì?
Hình bao giả định cả khung theo X, Y, Z là 1.040 × 600 × 700 mm. Hai cụm đầu nằm ở hai đầu chiều X, còn hình K đọc theo mặt Y–Z. Quy ước này giúp phân chiều dài bộ với bề rộng một đầu chân, tránh gọi cả hai cùng là chiều ngang.
Ở tờ một, số 600 mm chỉ bề rộng ngoài đầu khung, số 700 mm chỉ cao hình bao. Chúng là số của mẫu đang tải, không phải chiều cao khuyến nghị cho mọi bàn. Mặt bàn chưa có trong mô hình nên 700 mm không tự là cao độ mặt trên sử dụng.
Các khối biểu diễn có bề rộng hình 40 mm. Dữ liệu này không chỉ định sắt hộp 40 hoặc độ dày thành. Khối đặc chỉ giúp xem hình; không dùng nó như bảng vật tư hoặc căn cứ tính khối lượng thép cần mua.
Đọc hình K từ đầu khung
Trên hình đầu, nhận diện trục đứng, nhánh trên và nhánh dưới. Hai nhánh gặp vùng giữa trục và đi về phía đối diện. Thanh trên cùng thanh dưới xác định hình bao của biến thể này. Không bỏ chúng khỏi mẫu mà vẫn coi các kết luận bố trí còn nguyên.
Chữ K có hướng nên cần lưu ý chiều nhìn. Khi đổi từ nhìn phía trước sang phía sau, hình có thể trông đảo hướng. Ghi trục hoặc tên phía trên bản thay vì chỉ nói chân bên trái và bên phải qua một ảnh không có mốc.
Xem các kiểu chân bàn chữ K khi muốn chọn hình trước phát triển bản. Có mẫu nhận mặt và tiếp nền khác hình này; nếu đổi biến thể, phải cập nhật các hình chiếu cùng bộ dữ liệu, không chỉ sửa một nét trên ảnh.
Vùng giữa chưa cho biết cách nối
Trong mô hình, các khối giao nhau để biểu diễn hình. Vùng giao không phải chỉ định mối hàn, phần cắt khuyết hoặc một bản mã. Hình đứng không nói đủ các nhánh nằm cùng lớp hay khác lớp, vì vậy không lấy ảnh làm hướng dẫn tạo giao điểm.
Muốn chuyển thành thiết kế thực, cần hình cạnh hoặc hình cắt phù hợp để thể hiện tiết diện, đầu nhánh và nơi nhận. Cấu tạo đó ảnh hưởng bảng cắt, phương pháp gá và quá trình nối. Không tự điền bằng một kiểu đã từng thấy ở chân X.
Cũng không suy rằng hai nhánh có màu giống nhau sẽ cùng vật tư hoặc cùng cách làm. Màu trong tệp chỉ giúp nhìn hình. Những điều chưa có trong mẫu phải được ghi thiếu, không chuyển thành thông số sản phẩm bằng cách đọc hình thức.

Mặt bằng giúp đọc cả bộ chân
Tờ hai thể hiện hai cụm đầu và hai thanh dọc phía trên. Hình bao 1.040 × 600 mm là diện tích ngoài theo bản, không phải vùng đỡ liên tục cho mặt. Những khoảng trống và nơi cần nhận mặt phải được giải quyết theo vật liệu mặt thực.
Khi đặt vào sơ đồ mặt, giữ đúng đơn vị và mốc tâm hoặc mốc mép đã chọn. Không kéo ảnh bằng mắt tới khi thấy cân. Một bố trí cân trên hình chưa xác nhận khoảng nhô mặt phù hợp hoặc người ngồi đã đủ chỗ.
Đối chiếu cả mặt đứng với ghế, hộc và các phần dưới bàn. Nhánh xiên có thể nằm trong vùng người dùng đưa chân vào, dù ở mặt bằng nó vẫn nằm gọn dưới mặt. Cần xem cả không gian sử dụng, không chỉ một đường bao ngoài.
Kiểm tệp SKP sau mở
Tệp SKP có 12 nhóm khối hình, 96 đỉnh và 72 mặt tứ giác. Tọa độ gốc theo mm được đổi sang đơn vị nội bộ inch bằng cách chia 25,4. Tệp ghi theo định dạng 17.0.1, không phải OBJ được đổi tên thành SKP.
Đã đọc lại bằng thư viện để đối chiếu toàn bộ đỉnh, mặt và hình bao 1.040 × 600 × 700 mm. Chưa thử mở bằng ứng dụng SketchUp và chưa xác nhận mọi phiên bản. Đây là giới hạn kiểm tệp, cần giữ rõ khi dùng mẫu.
Sau mở hoặc nhập, dùng công cụ đo để kiểm ba chiều hình bao trước chèn vào bản của mình. Với OBJ, xem lựa chọn đơn vị của trình nhập. Tọa độ OBJ trong gói theo mm và trục Z hướng lên; phần mềm khác có thể cần thiết lập tương ứng.
Nếu chỉ cần đọc mốc, có thể xem PDF. Khi cần chỉnh hình, dùng bản sao mô hình và ghi phiên bản thay đổi. Không dùng thước đo trên ảnh chụp màn hình để thay số của dữ liệu vì ảnh có thể co dãn theo khung hiển thị.
Chỉnh chiều dài, cao hoặc bề rộng
Thay khoảng cách hai cụm đầu khác kéo dãn toàn khung. Thao tác kéo dãn có thể làm cả bề rộng khối và hình nhánh đổi theo. Nếu mục tiêu chỉ là xem bố trí dài hơn, xác định đúng phần cần dịch rồi cập nhật thanh nối tương ứng trong bản làm việc.
Đổi chiều cao hoặc bề rộng đầu K làm quan hệ các nhánh xiên thay đổi. Không giữ một góc hoặc một đầu cắt theo mẫu cũ rồi coi các phần vẫn khớp. Mô hình tham khảo không cung cấp một công thức cắt dùng cho mọi kích thước.
Sau chỉnh, cập nhật cả hình đứng và mặt bằng, kiểm trục cùng mốc. Đặt tên phiên bản để không lấy PDF cũ đi cùng mô hình đã sửa. Nếu chuyển sang phương án thực, rà lại vật tư và liên kết thay vì giữ chúng theo một hình bao ban đầu.
Những phần phải bổ sung trước gia công
Hồ sơ thực cần vật liệu, quy cách, thành hộp nếu có, cấu tạo giao điểm, phần nhận mặt, chân tiếp nền và vật tư liên kết. Yêu cầu hoàn thiện cùng tiêu chí kiểm phải được thống nhất. Không dùng số khối trong mô hình làm số chi tiết của sản phẩm thật.
Cần bảng chi tiết thể hiện mốc cắt và hướng theo cấu tạo đã chọn. Chiều dài đường tâm, chiều dài ngoài và chiều dài cắt có thể khác nhau. Không đo một đoạn trên mô hình đơn giản rồi gọi đó là bảng cắt đã chốt.
Giới hạn sử dụng không có trong mẫu. Hình đẹp, các khối gặp nhau hoặc mô hình đứng trong phần mềm chưa chứng minh độ cứng, ổn định và liên kết. Không đặt một con số tải khi chưa có căn cứ của cấu hình thực.
Phần mặt và cao độ dùng
Chọn vật liệu và cấu tạo mặt trước phát triển nơi nhận. Một mặt gỗ, kính hoặc đá có thể cần giao diện khác theo phương án. Không dùng lại lỗ hoặc bản nhận chỉ vì kích thước mặt trên gần bằng nhau.
Nếu muốn mặt trên ở một mốc cụ thể, tính cả mặt, các lớp trung gian và phần tiếp nền theo cùng quy ước. Không cộng một bản lắp hai lần hoặc xem chiều cao khung là chiều cao sử dụng cuối cùng. Bản rõ mốc giúp các phần bàn khớp cách đo.
Với bàn dùng trong một không gian đã có ghế, kiểm công năng sau khi đặt các phần theo kích thước thực. Không lấy tỷ lệ phối cảnh của mẫu không có mặt để chọn chiều cao ghế hoặc xác nhận khoảng trống ngồi.
Dùng mẫu để trao đổi với xưởng
Gửi cùng mục tiêu sử dụng, dữ liệu mặt, nơi đặt và những phần muốn thay. Đánh dấu rõ hình tham khảo với bản chốt làm hàng. Xem bản vẽ tham khảo khung chân thép nếu muốn đối chiếu cách đọc hai đầu và các thanh nối ở biến thể khác.
Zimbe trực tiếp nhận sản xuất; Giá: Liên hệ. Báo giá theo thiết kế, số lượng và công việc thực. Xem gia công chân bàn để tách phần phát triển bản, gia công, hoàn thiện và lắp. Tệp tải không tự thay phần thống nhất đó.
Có tải PDF và SKP không? Có trong gói đầu bài. Có sản xuất ngay theo mẫu không? Chưa, đây là hình học tham khảo thiếu hồ sơ chế tạo. Có tải xác nhận không? Không; các số chỉ mô tả mẫu hình, không phải thông số sản phẩm đã kiểm.
Trước khi đặt, có thể đọc phần Giao hàng lắp đặt và Bảo hành đổi trả, rồi xác nhận các điều kiện áp dụng cho mẫu chân bàn và đơn hàng cụ thể.














